Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Lớp vỡ lòng


           Cuối những năm bảy mươi, đầu tám mươi trường cấp một hai nơi  chúng tôi học là trường hoành nhất thị xã, tương đương với trường chuẩn quốc gia bây giờ, nhưng vẫn nghèo lắm. Trường vẫn còn mấy dãy nhà thấp lè tè, lợp giấy dầu thủng lỗ chỗ. Mùa hè thì nóng như nung, mặt trời thiêu đốt làm mái giấy dầu mềm nhũn, sặc mùi nhựa đường. Mùa mưa thì thôi rồi trong lớp tối mù mù chẳng nhìn thấy gì. 

(ảnh trên mạng chỉ mang tính chất minh họa)

      Bọn trẻ chúng tôi chỉ thích có mưa. Mưa to quá là chúng tôi được nghỉ giải lao để nghịch vì có nhìn thấy gì đâu mà viết vả lại mái nhà có nhiều chỗ dột nước mưa giỏ tí tách ướt hết cả sách vở. Mỗi lần mưa to trong lớp nước đọng thành vũng trên nền đất, đi không khéo trơn ngã là chuyện thường. Ngoài sân nước không thoát kịp dềnh lên như cái ao, lúc tan học tha hồ cho lũ chúng tôi đùa nghịch. Ngày đó bọn trẻ con chúng tôi sách vở nhẹ lắm, vài ba quyển nhét vào túi vải đểu hay túi đan bằng cước xách toòng teng. Tôi oách hơn lũ bạn là có cái xà cột bằng da nâu nhiều ngăn, có quai khoác chéo qua vai trông như cán bộ. 

       Lũ trẻ con ngày ấy đi học mà như đi chơi chẳng phải lo gì, đứa nào ngu quá thì ở lại lớp, đúp vài ba năm cũng chả sao học sau cả em  mình mà vẫn cười phe phé. Không như bây giờ có bị đao nặng muốn học lại, bố mẹ xin cô cho đúp cũng không được, thế mới lạ.
        
     Dạy chúng tôi năm vỡ lòng là bà Tiệp. Chả phải tôi hỗn mà gọi cô giáo là bà, gọi thế đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Năm ấy bà Tiệp có nhẽ ngoài năm mươi, mặt mũi đã nhăn lắm rồi lại hay mặc những đồ nâu nâu, tôi tối và đặc biệt là lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Thi thoảng bà đưa tay vuốt xung quanh miệng rồi búng cái tách cho nước cốt trầu bắn chíu xuống đất. Lâu lâu đang viết bảng bà quay ngang mặt nhổ cái toẹt xuống nền lớp. May mà ngày ấy còn nghèo nền lớp là nền đất, một lúc thấm hết nước cốt trầu chỉ để lại đám đất nâu hơn chỗ khác một chút, chứ bây giờ nền nhà bằng gạch hoa bóng loáng thì chả biết thế nào.


(Giáo Tiệp cũng ăn trầu như này)
   Lũ học trò nhi đồng chúng tôi sợ bà Tiệp lắm. Ngày ấy tôi thấy khuôn mặt bà chả có gì là phúc hậu, mỗi lần bà trừng đôi mắt lòng trắng nhiều hơn lòng đen nhìn chúng tôi, đứa nào đứa đấy run như giẽ, đứng không vững. Giọng bà Tiệp thì thôi rồi the thé, rin rít, mỗi lần bà ấy nói hai hàm răng cứ dính chặt vào nhau không chịu rời ra. Vô phúc cho đứa nào trong giờ học mà nghịch để bà ấy nhìn thấy quát cho một cái, ngồi không vững đảm bảo ngã ngửa là cái chắc.
   
    Cái sự dạy dỗ của bà cho chúng tôi đến giờ tôi quên sạch, chả nhớ gì. Duy chỉ có một điều muốn quên cũng không được, ba mươi mấy năm nhưng nó vẫn cứ như mới xảy ra ngày hôm qua. Chả là thế này, tôi được xếp ngồi đầu bàn, phía ngoài cùng cạnh lối đi ở giữa lớp, bà Tiệp cho tất cả những đứa ngồi đầu bàn như tôi là bàn trưởng có quyền xử lý các bạn cùng bàn. Ngồi bên cạnh tôi là cái Mẫn, khuôn mặt nó tròn tròn bầu bĩnh, mắt một mí hơi him híp, nó cũng đen đen cỡ như tôi. Cái Mẫn ít nói chỉ lặng lẽ lầm lỳ cắm mặt vào tô tô, viết viết. Chữ nó đẹp lạ, tròn xoe, đều tăm tắp tôi phục lắm, chả bù cho tôi, chữ xấu tệ đến tận bây giờ vẫn thế nhiều khi đọc lại tôi không biết mình viết gì, thế mới tài. 

      Nhưng cái Mẫn có một tội lớn, rất lớn mà đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao đó lại là tội. Nó viết bằng tay trái. Chuyện viết bằng tay trái chả có gì ghê là gớm lắm có nhẽ thế, nhưng với lũ nhi đồng chúng tôi lúc bấy giờ đó là tội lớn, chẳng thế mà bà Tiệp lại ra lệnh cho chúng tôi (những đứa bàn trưởng) là được phép sử dụng hình phạt nặng nhất đối với cái tội ấy - đó là điều bắt buộc. 
      
      Lũ nhi đồng, không chỉ ngày trước mà ngay cả bây giờ khi xã hội đã rất phát triển, rất tiến bộ thì ý của cô giáo còn hơn cả ý trời (điều này tôi giám đảm bảo). Trong giờ học tôi vừa viết tôi vừa lăm lăm cái thước kẻ dài khoảng 30 phân bằng gỗ, to như ngón tay người lớn trong tay, chỉ chực cái Mẫn chuyển sang tay trái để viết là con thú hoang trong tôi trỗi dậy thực hiện cái mệnh lệnh đã được  bà Tiệp ban ra ... vụt, vụt, vụt .... thẳng cánh không hề thương tiếc.

      Khốn nạn thật, lúc bấy giờ tôi lấy đó là niềm vui thú còn cái Mẫn không bao giờ khóc thành tiếng, môi nó chỉ mím chặt nước mắt lã chã, lã chã rơi xuống vở .... bà Tiệp nhìn tôi với ánh mắt kích lệ.
     
      Năm sau lên lớp một tôi không còn ngồi cạnh cái Mẫn và bà Tiệp cũng không còn dạy chúng tôi nữa mọi thứ tôi quên dần, quên dần chỉ còn đọng lại câu hỏi trong đầu đến giờ chưa có lời giải đáp là: tại sao cái Mẫn lại có tội ? tại sao bà Tiệp lại dạy tôi trở thành một con thú ?

      Mẫn ơi tha lỗi cho tôi nhé !

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Em




       Em mãi là
           Thiếu nữ trong tranh

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Múa rối nước - đốt pháo


Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Album xẩm - NSUT Hà Thị Cầu


     Hà Thị Cầu (1928 - 3 tháng 3, 2013) là một nghệ nhân hát xẩm. Bà được mệnh danh là "báu vật nhân văn sống" và là nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20.

     Bà tên thật Hà Thị Năm (Cầu là cách gọi theo tên con trai cả ở vùng Yên Mô, Ninh Bình). Theo một số nhận định, bà sinh năm 1917, tuy nhiên theo chị Mận, con gái của bà, thì bà sinh năm 1928 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình ba đời hát xẩm. Cha bà là một người hát xẩm bị khiếm thị. Năm 11 tuổi, cha mất và bà cùng mẹ rời Nam Định về sinh sống tại thôn Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
      Khoảng tám tuổi, bà đã đã bê chiếc thau đồng theo bố mẹ lê la khắp các chợ quê để hành nghề hát xẩm kiếm sống. Định cư tại Yên Mô (Ninh Bình), hai mẹ con bà nương nhờ học hát tại nhà ông trùm xẩm Chánh Trương Mậu khi đó hiện là trưởng sáu gánh hát ở Ninh Bình. Năm 16 tuổi bà trở thành người vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (biệt danh là Chánh Trương Mậu). Năm đó ông Mậu 49 tuổi, từng chung sống với 17 người đàn bà, trong đó có 8 bà chính thức. Khi bà 33 tuổi thì ông Mậu qua đời., để lại cho bà bảy người con; sau thì bốn người lần lượt qua đời vì bệnh đậu mùa. Con rể bà làm nghề đánh cá còn con gái buôn bán rong các chợ Bút, chợ Ninh, chợ Nam Dân ở Ninh Bình.
     Vợ chồng bà có mảnh đất từ trước 1945. Năm 1954, khi về định cư thì gia tài chỉ có hai cái niêu, một dùng để rang và một dùng để nấu. Từ nhỏ bà đã hát xẩm nhưng lại không biết làm nghề gì khác nên đời sống rất nghèo khổ. Vì nghèo nên bà đã mất một người con sơ sinh còn một người nữa thì phải đem cho. Gần đây mẹ con bà mới đoàn tụ.
     Cuối những năm 1980 nhà bà mới được Chính phủ Việt Nam cấp ruộng. Năm 1992, gia đình bà xây một căn nhà nhưng không có công trình phụ..
     Bà mất ngày 03 tháng 03 năm 2013 tại nhà riêng ở xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình, thọ 86 tuổi.

     Năm 1977, sau ngày Việt Nam thống nhất, bà viết bài Theo Đảng trọn đời. Sau đó, bà được tham dự nhiều hội diễn văn nghệ quần chúng toàn quốc, đoạt được nhiều huy chương vàng và giải thưởng đặc biệt. Năm 1981-1982, bà được Nhạc viện Hà Nội mời tham gia phụ trách chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Bà đã nhận được bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói Việt Nam và giải đặc biệt "Nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình" trong Liên hoan Trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc. Năm 2008, Nghệ nhân Hà Thị Cầu đã nhận được giải thưởng Đào Tấn, giải thưởng dành cho những đóng góp trong việc gìn giữ vốn quý nghệ thuật dân tộc. Bước vào tuổi 80, bà kết thúc công việc hát rong của mình. Hoàn cảnh khó khăn của gia đình bà đã được đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông và đã nhận được nhiều sự ủng hộ tích cực của nhiều người hảo tâm. Những làn điệu xẩm cùng giọng hát của bà là những di sản quý giá còn lại của nghệ thuật xẩm. Bà đã được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vào ngày 25 tháng 12 năm 2004 và đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú. Mặc dù những giải thưởng và danh hiệu, nhưng cuộc sống của bà vẫn vô cùng khổ cực. Đến cuối đời, bà vẫn chưa một ngày thoát khỏi cảnh nghèo khó và gia đình bà Cầu thuộc diện những hộ dân nghèo nhất xã Yên Phong. Nghệ nhân Hà Thị Cầu tuy không biết chữ nhưng có rất nhiều câu cửa miệng. Chẳng hạn khi hỏi chuyện cát-xê khi xưa, bà buột miệng: "Bảo Đại [ý nói đồng tiền Bảo Đại] làm hại ăn mày"; hay chuyện bà đang phải uống thuốc thì bà nói: "Thuốc nam đánh giặc thuốc bắc lấy tiền". Có một câu mà bà Cầu nhắc lại nhiều lần: "Vất vả tại số, dở dương tại giờ-ời"
Nghệ nhân Hà Thị Cầu là một pho sử sống về nghệ thuật hát xẩm. Cuộc đời bà như một con tằm đã xong kiếp nhả tơ. Không ruộng vườn, không lương hưu, vẫn nghèo khổ như thuở ôm con đi hát rong khắp mọi miền, bà sống dựa vào tình thương yêu, sự giúp đỡ của những người yêu mến giọng hát của bà.
—Nhạc sĩ Quang Long

Trong nghệ thuật hát xẩm, bà Hà Thị Cầu được đánh giá là nghệ nhân duy nhất còn lưu giữ được nhiều làn điệu cổ của nghề. Bà cũng là người có thể tự đặt lời mới mang hơi thở của thời đại cho các làn điệu xẩm truyền thống."
—Báo Thanh Niên
... cách hát và chơi đàn của nghệ nhân Hà Thị Cầu vô cùng độc đáo và ở Việt Nam gần như không có người thứ hai."
—Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa

Chèo cổ - nhiều nghệ sĩ